« February 2011 | Main | April 2011 »

2 posts from March 2011

03/26/2011

Group-buying thời "gạo cao lương kém"

Muachung

Trong bài viết trước đây về mô hình của Groupon (Một vài suy nghĩ về mô hình Groupon), tôi có phân tích & nhận định rằng những mô hình như thế này sẽ phát triển về hoạt động bán hàng dài hạn hơn là chỉ phát huy được tác dụng quảng cáo như hiện nay. Để cho rõ ràng, tôi cố gắng tóm tắt sự phát triển của mô hình này qua 3 giai đoạn như sau:

  1. Online coupons, promotional deals listing
    Đây là giai đoạn khởi đầu, thay thế cho cách thức quảng cáo coupon/deals trên các phương tiện thông tin truyền thống như báo in, tạp chí
    - Vai trò trung gian thương mại: hoàn toàn không tồn tại, chỉ thuần túy là một kênh quảng cáo trực tuyến
    - Trách nhiệm trung gian thương mại: không tồn tại, doanh nghiệp chỉ trả tiền quảng cáo coupons/deals của mình trên các websites này
  2. Group-buying
    Đây là giai đoạn hiện nay, khai thác có hiệu quả hơn việc quảng bá coupon/deals bằng cách bán giá rẻ có điều kiện
    - Vai trò trung gian thương mại: Đã xuất hiện
    - Trách nhiệm trung gian thương mại: Đã xuất hiện nhưng ở mức độ thấp, tạo ra sự gắn kết với doanh nghiệp và giúp doanh nghiệp hiểu rõ được mô hình kinh doanh kiểu mới
  3. Social-shopping (tạm thời sử dụng từ nay để mô tả)
    Đây là giai đoạn tiếp theo, chuyển dịch từ hoạt động quảng bá sang bán hàng hóa/dịch vụ hướng về giá trị (hơn là về giá rẻ)
    - Vai trò & trách nhiệm trung gian thương mại ở mức độ cao hơn, đặt trọng tâm vào quản lý quan hệ với cả doanh nghiệp và người tiêu dùng

Ở hoàn cảnh kinh tế khó khăn như hiện nay, mà tôi gọi là "gạo cao lương kém" - sự gia tăng chi phí đầu vào & chi phí vốn sẽ dẫn đến tình trạng:

  • Doanh nghiệp khó duy trì liên tục các hoạt động bán hàng giá rẻ dưới áp lực chi phí. Nếu tiếp tục bán hàng giá rẻ, chiết khấu quá cao thì doanh nghiệp không chỉ vừa bị rơi vào áp lực chi phí , mà còn sẽ mất đi phần lợi nhuận tiềm năng từ đối tượng khách hàng hướng về giá trị (hơn là giá rẻ)
  • Doanh nghiệp khó tiếp tục duy trì mức lợi nhuận ổn định. Đây là điểm mấu chốt (bottom-line) bởi vì tăng trưởng lợi nhuận gian nan hơn duy trì lợi nhuận ổn định rất nhiều lần
  • Người tiêu dùng cắt giảm chi tiêu vào các loại hàng hóa dịch vụ không thiết yếu (du lịch, giải trí, ăn uống bên ngoài, mua sắm…)

Tuy nhiên, cơ hội không phải là không có:
- Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị (hơn là giá rẻ) vẫn phát triển
- Đối tượng khách hàng rất nhạy cảm về giá sẽ tăng cường tìm kiếm deals/coupons

Dẫu rằng những mô hình group-buying ở giai đoạn 2 có mang lại nhiều lợi ích cho doanh nghiệp, nhưng thực tế hoàn toàn không phải như vậy:

  • Negative net working capital (chính xác hơn là Cash Coversion Cycle âm): Doanh nghiệp thu tiền trước của người mua, trả cho nhà cung ứng. Đây là con dao 2 lưỡi nếu không sử dụng đúng cách, nếu bán giá quá rẻ thì doanh nghiệp chỉ đảm bảo chi trả được một phần lãi vay và chi phí đầu vào. Nghĩa là doanh nghiệp cho dù có được Cash Conversion Cycle âm, nhưng doanh thu giảm và chi phí vốn tăng (thời gian thanh toán lãi vay + chi phí đầu vào kéo dài; phải huy động thêm operating capital để đáp ứng khối lượng khách hàng mua dịch vụ với giá quá rẻ) làm cho hiệu quả của Cash Conversion Cycle âm trở nên không đáng kể
  • Chi phí thu hút khách hàng mới thấp: Điều này đúng nếu doanh nghiệp bỏ qua việc so sánh lợi ích này đối với các yếu tố khác (chi phí cơ hội, chi phí vốn, tần suất trở lại của khách hàng…)

Do đó, đã xuất hiện tình trạng Doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết bán hàng giá rẻ, niêm yết bán giá rất thấp nhưng để mua được thì người tiêu dùng phải bỏ thêm chi phí; và một số hình thức biến tướng mập mờ khác. Đối với những mô hình hiện nay như Groupon, siêu giảm giá & quảng cáo chỉ là biện pháp, không phải là mục đích của mô hình. Ngoài ra, các mô hình ở giai đoạn 2 sẽ không tồn tại được lâu, bởi lẽ:

  1. Cạnh tranh gay gắt giữa các group-buying sites sẽ làm giảm hiệu quả kinh doanh của mô hình hiện tại
  2. Luôn tồn tại nhu cầu cần phải mở rộng đối tượng phục vụ, nâng cao chất lượng và quan hệ với cả hai phía: doanh nghiệp & người tiêu dùng
  3. Quan trọng nhất: Sự ra đời của các nền tảng và ứng dụng tích hợp cung cấp deals/coupons với các công nghệ location-awareness + mobile payment + QR code (của Google, Facebook, Amazon, và các nhà phát triển độc lập khác) sẽ dẫn đến sự thay thế group-buying sites ở giai đoạn 2, bởi vì doanh nghiệp sẽ tìm thấy một giải pháp quảng bá tương đương với chi phí thấp hơn.

Đối với các trung gian thương mại như group-buying sites hiện nay, việc chuyển dịch ra khỏi giai đoạn 2 sẽ mang lại hai cơ hội quan trọng:
- Đối tượng khách hàng tìm kiếm giá trị không đòi hỏi giá bán quá thấp, mà sẽ đưa ra quyết định dựa trên chất lượng dịch vụ và giá, do đó mang lại phần chiết khấu cao hơn cho group-buying sites
- Cơ hội để xây dựng cộng đồng người tiêu dùng trung thành với website để duy trì cộng đồng người mua cho các doanh nghiệp

Về góc độ cá nhân, đối với Việt Nam, tôi nhận thấy tốc độ ứng dụng mô hình kinh doanh group-buying hiện nay là rất nhanh, có thể nói là không hề thua kém Hàn Quốc và Trung Quốc. Mặc dù các group-buying sites của VN còn mới và nảy sinh nhiều bất cập do chưa nhận thức đầy đủ toàn diện mô hình, nhưng chắc chắn là họ sẽ có những điều chỉnh hợp lý.

--------------------------------------------------------------------------------

* Một bài viết khác đáng đọc: Mua sắm cộng đồng ở Việt Nam: Chưa "gặp thời"

03/02/2011

Bỏ giá trần vé máy bay nội địa - Cần thận trọng!

image from farm5.static.flickr.com

Ngày 28/02/2011, báo SGGP Online có đăng bài viết "Bỏ giá trần vé máy bay - Lợi cả đôi đường" và "Có nâng giá vé máy bay vì tỷ giá?" trên VnEconomy. Với tư cách là độc giả thường xuyên theo dõi mảng tin tức về ngành hàng không, tôi rất không đồng tình với cách kết luận vấn đề rất vội vàng qua lối diễn giải hời hợt của người viết. Thế nào được gọi là "lợi cả đôi đường" khi trong bài báo này không hề đề cập đến phản ứng của người tiêu dùng, cũng như hoàn cảnh môi trường kinh tế-xã hội hiện tại?

Bản thân là người đi làm kinh tế, tôi luôn ủng hộ quan điểm thị trường tự do và cạnh tranh bình đẳng. Tuy nhiên, trong tình hình hiện tại của ngành hàng không hiện nay, việc bỏ giá trần vé nội địa trong thời điểm này cần phải hết sức thận trọng.

1) Vấn đề chi phí

Theo ông TGD của VNA "70% chi phí đầu vào của ngành hàng không phải thanh toán bằng ngoại tệ trong khi doanh thu nội địa bị tính bằng tiền đồng theo giá trần bị khống chế", đây là một thực tế có tính chất đặc trưng của ngành hàng không thế giới nói chung, chứ không riêng gì VNA. Chi phí cố định lớn, thường chiếm đến 70-80% tổng chi phí, không chỉ tồn tại ở các hãng hàng không truyền thống, mà còn cả với các hãng low-cost.

Vấn đề cần xem xét ở đây không chỉ là tỷ giá biến động mạnh, giá nhiên liệu tăng, hay chi phí đầu vào lớn; mà chính là ở hiệu quả của việc quản lý chi phí hoạt động của hãng. Nếu việc dỡ bỏ giá trần không đi kèm với một chiến lược quản lý chi phí hiệu quả thì kết quả cuối cùng cũng không thể giải quyết được bài toán lợi nhuận của VNA, và người tiêu dùng sẽ phải gánh lấy phần thiệt lớn nhất.

2) Vấn đề quản lý giá vé máy bay của nhà nước

Tác giả viết: "Theo các chuyên gia kinh tế, trên thế giới hiện nay, trong hoạt động kinh doanh vận tải hàng không, không còn nước nào quản lý giá vé máy bay", đây là cách viết ngụy biện và sai sự thật trắng trợn.

Trên thực tế, nhiều quốc gia đang phát triển vẫn tồn tại những biện pháp trực tiếp lẫn gián tiếp để quản lý giá vé máy bay nội địa. Thái Lan và Trung Quốc vẫn duy trì khung giá vé máy bay nội địa để hỗ trợ người dân tiếp cận hình thức vận tải này (http://www.chinadaily.com.cn/bizchina/2010-06/01/content_9918022.htm). Trong đợt tăng giá vé máy bay đột biến tại Ấn Độ vào cuối năm 2010 vừa qua, nếu không có sự can thiệp mạnh tay chính phủ Ấn, người dân Ấn sẽ phải gánh chịu mức tăng chi phí đi lại quá cao vì lạm dụng price-fixing giữa các hãng.

Ông PTGD của Jetstar phân tích "bỏ giá trần không đồng nghĩa với tăng giá vé. Vé mua sát giờ bay, vé trong giờ đẹp sẽ cao hơn nhưng cũng sẽ có rất nhiều vé giá rẻ được bán ra, kích cầu đi lại.". Bài báo trên SGGP cũng viết "Các hãng HK sẽ được phép tự định đoạt giá vé dựa theo nhu cầu thị trường, chi phí, chất lượng dịch vụ. Người ta chỉ khống chế giá trần đối với các đường bay độc quyền, tức chỉ có một hãng HK khai thác, còn hiện nay ở Việt Nam, hầu hết các đường bay trong nước đã đều có từ 2 hãng HK trở lên khai thác nên việc khống chế giá trần không có lợi."

Lập luận như trên chỉ đúng trên lý thuyết. Hiện nay, trên 2 tuyến đường SGN-DAD và SGN-HAN, VNA vẫn đang chiếm từ 69 đến 82% tổng số ghế. Với chiến lược mở rộng đội bay của VNA trong vài năm tới, khó có thể nói các tỷ lệ này sẽ giảm đi đáng kể. Khả năng tăng chuyến với đội bay hiện tại của Jetstar và Air Mekong gần như là rất khó, ngay cả khi có thêm xuất hiện của hãng hàng không mới trong vài năm tới, VNA vẫn có cơ hội duy trì mức giá vé cao trong vòng 3-4 năm.

3) Mô hình kinh doanh kém linh hoạt

Bài báo trên SGGP viết: "Cụ thể, các hãng HK có thể bán vé giờ cao điểm, giờ chót tại sân bay cao hơn, bù lại sẽ dành mức giá tiết kiệm, giá rẻ cho những hành khách ít tiền nhưng đặt vé sớm, hoặc chấp nhận bay vào những giờ bay thấp điểm (như bay đêm…).
Như giai đoạn cao điểm trước và sau Tết Nguyên đán chẳng hạn. Trên một số đường bay như TPHCM - Hà Nội, TPHCM - Đà Nẵng có nhu cầu rất cao và thường chỉ diễn ra một chiều, chiều ngược lại nhu cầu rất thấp. Điều đó làm cho hệ số ghế chuyến bay khứ hồi trong giai đoạn cao điểm lệch đầu còn thấp hơn so với giai đoạn bình thường. Nếu bỏ giá trần, các hãng HK sẽ tăng giá vé chiều bay ra, giảm giá vé chiều bay vào để tránh lỗ.
"

Thực tế, đa số hành khách thường mua ở mức giá vé trung bình và các hãng hoàn toàn có khả năng điều chỉnh mức giá vé cao hay thấp theo nhu cầu thị trường và thời điểm mua vé. Hiện tượng chênh lệch hệ số ghế trước và sau Tết Nguyên Đán là nằm ở cầu của thị trường và hãng có thể điều chỉnh lịch bay và hoạt động bay linh hoạt theo đó. Tại sao giá trần lại là nguyên nhân, trong khi thực tế các hãng vẫn có khả năng tăng số lượng mức vé tại trần, như trong dịp tết vừa qua?

Thay vì dựa dẫm vào biện pháp tăng giá vé cơ bản, tôi nghĩ mô hình kinh doanh hàng không nội địa cần phải có sự thay đổi. Thay vì cung cấp vé theo hạng bay như hiện nay, cần thiết phải cung cấp dịch vụ có khả năng tùy biến và đa dạng đến hành khách. Chẳng hạn: Thu phí hành lý ký gửi, tùy chọn bữa ăn và chỗ ngồi có trả tiền, phụ phí nhiên liệu… Thậm chí, các hãng truyền thống của Hoa Kỳ hiện nay cũng học tập theo mô hình dịch vụ đa dạng và tùy biến của các hãng low-cost.

Hiện nay, Jetstar Pacific đã được xem như là hòa vốn và bắt đầu có lời. VNA với 800 triệu USD doanh thu hàng không nội địa, và hãng bù lỗ 30 triệu USD trong năm qua (khoảng bù lỗ tương đương 3.75% doanh thu). Hai hãng này vẫn đang cạnh tranh với giá vé khuyến mãi luôn có hàng ngày. Điều này chứng tỏ rằng thực tế không đáng phải "bi đát hóa" như các bài báo kể trên đã vẽ ra.

Với tình hình chi phí và lạm phát gia tăng như hiện nay, thay vì dỡ bỏ hoàn toàn vé trần máy bay nội địa, giải pháp mềm hơn đó là nới lỏng kiểm soát giá. Động thái này vừa tránh tạo cú shock cho người tiêu dùng, vừa có sức ép các hãng phải: (1) thực hiện chính sách quản lý chi phí chặt chẽ; (2) tổ chức lại mô hình kinh doanh hàng không nội địa; (3) tổ chức hoạt động bay linh hoạt hơn. Tất nhiên là không thể thiếu sự hỗ trợ của nhà nước về phát triển hàng không nội địa trong dài hạn và giảm thuế đầu vào trong ngắn hạn như các quốc gia trên thế giới vẫn đang thực hiện.

Nói như vậy để thấy rằng các hãng vẫn hoàn toàn có khả năng tự điều chỉnh thích ứng với tình hình khó khăn như hiện nay, hơn là mãi kêu ca khó khăn và chuyển mọi gánh nặng lên vai người tiêu dùng.

----------