20 posts categorized "Marketing"

10/05/2010

Một vài suy nghĩ về mô hình Groupon (Group + coupon)

Clipboard01


Vài hôm trước, tôi có nói chuyện với anh Ninh Phan và anh DatLD về chủ đề online business. Có một điểm chung mà tôi thấy cả hai anh và tôi đều nhất trí, đó là các mô hình thương mại điện tử thực ra đều là các mô hình thương mại truyền thống khi được áp dụng vào môi trường online thì đã có sự thay đổi nhất định.

Thử lấy ví dụ về mô hình Groupon và Muachung mà anh Long EPI đã có đề cập trong bài viết Mấy câu hỏi nhỏ về mô hình Groupon. Tôi có ví dụ đơn giản thế này: Bạn sản xuất được 100 sản phẩm nhưng chỉ bán được 20 sản phẩm. Tôi biết được thông tin này và đến nói với bạn như sau:

a) Nếu tôi tìm được thêm 80 khách mua thì bạn phải bán với giá chiết khấu giảm 30%. Nếu không thì bạn chẳng cần phải bán. Hoặc:

b) Căn cứ vào số lượng khách mua thực tế mà tôi tìm được, bạn có thể đưa ra mức giá chiết khấu hợp lý.

Trong trường hợp này, giữa quan hệ người mua người bán phát sinh một trung gian thương mại. Đây là trường hợp rất phổ biến trong môi trường kinh doanh. 

Bạn có thể dễ dàng tìm thấy rất nhiều ví dụ trong thực tế. Dễ nhất là mối quan hệ giữa khách du lịch - hãng du lịch - hãng hàng không. Các hãng du lịch thường mua một số lượng ghế nhất định trên các chuyến bay của hãng hàng không với giá đặc biệt để phục vụ cho các tour-packages cung cấp cho khách du lịch. Ví dụ một tour đi châu Âu thường từ 10-20 người, thì hãng du lịch thường ghép khách cho đến khi nào đủ số lượng khách đi trong một tour thì mới thực hiện chương trình du lịch.

Định giá chiết khấu và trung gian thương mại là những khái niệm rất dễ nhận biết. Trong trường hợp này, Groupon hay Muachung chính là các trung gian thương mại.

1) Vậy thì: mặt hàng nào sẽ phù hợp với mô hình như Groupon?

Không chỉ là các sản phẩm dịch vụ, mô hình Groupon hoạt động dựa trên các hot-deals có điều kiện còn phù hợp với các loại hàng hóa hữu hình khác như: Mỹ phẩm, sản phẩm dinh dưỡng, thiết bị điện tử, hàng may mặc... Theo quan sát của tôi, hầu như tất cả các ngành hàng đều có thể áp dụng, với điều kiện là sản phẩm được quảng bá phải hấp dẫn. Tuy nhiên, những sản phẩm dễ được áp dụng nhất hiện nay thường là các loại hàng hóa dịch vụ: (1) có margin cao, (2) tạo sự thèm muốn nhanh nhất, và (3) chi phí sở hữu tương đối cao.

2) Vậy thì: đối tượng khách hàng nào sẽ phù hợp với mô hình này?

Theo lẽ thông thường, đa số ý kiến cho rằng đối tượng là những người mua nhạy cảm với giá. Hiển nhiên là vậy, tuy nhiên cũng cần phải để ý rằng trong thị trường luôn tồn tại những "người mua bị động", thiếu sự kích thích để tác động đến quyết định mua hàng, chứ hoàn toàn không phải vấn đề vì giá cả.

3) Vậy thì: Groupon là một kênh marketing hay một kênh sales?

Có quan điểm cho rằng Groupon là một kênh marketing hơn là một kênh bán hàng. Để giải thích câu hỏi này, hãy thử hình dung một số trường hợp sau:

a) Đối với môi trường kinh doanh trực tuyến nhỏ lẻ ở Việt Nam và một số nước châu Á, tôi dễ nhận thấy đa số người bán không phải là nhà sản xuất hoặc đơn vị phân phối chính. Chủ yếu vẫn là phải qua một số trung gian cá nhân (hoặc công ty) có điều kiện mua được sản phẩm với giá rẻ hơn giá niêm yết và bán lại cho người dùng cuối cùng. Trong trường hợp này, các sản phẩm được bày bán thường là các thương hiệu dễ nhận biết, do đó chức năng quảng cáo sản phẩm không đóng vai trò đáng kể gì. Nói cách khác, đây là một kênh bán.

b) Đối với một số sản phẩm đang sử dụng hình thức bán hàng trực tiếp như Avon, Amway hay Oriflame thì có thể sử dụng Groupon. Tuy nhiên, trong trường hợp này, Groupon không nói lên được gì nhiều về thông tin chi tiết của sản phẩm dịch vụ, không có tính thuyết phục, và không hiệu quả bằng việc sử dụng các biện pháp direct-marketing và chuyên viên bán hàng. Do đó, đối với các sản phẩm đòi hỏi người tiêu dùng phải hiểu rõ thông tin trước khi sử dụng thì việc giới thiệu sản phẩm mới thông qua Groupon là không hợp lý. Do đó, Groupon hay Muachung chỉ nên sử dụng như một kênh bán hàng.

c) Đối với các deals trên Groupon có tính chất đặc thù như vé tàu, vé máy bay, khách sạn thì để xác định việc sử dụng Groupon là kênh marketing hay kênh bán còn tùy thuộc vào đặc điểm kinh doanh và thời gian bán hàng. Ví dụ: Các hãng bay thường công bố các hạng vé máy bay giá rẻ vì họ thà chấp nhận bán giá rẻ hơn là để mất hết lợi nhuận tiềm năng trên các chỗ ngồi trống trong một chuyến bay. Điều này đặc biệt đúng khi vào mùa thấp điểm. Bạn có thể thắc mắc là: Các deals ở Groupon thường bán với số lượng ít chứ có bán với số lượng cả trăm ngàn đâu? À, bạn nên biết là các hãng bay luôn có các deals vé rẻ quanh năm, nếu xét mỗi tuyến đường bay là một sản phẩm thì bạn sẽ thấy rằng số lượng các deals vé rẻ / sản phẩm là không nhiều. Do đó, xem xét về mặt dài hạn, đây là hoạt động bán hàng để đảm bảo tính thanh khoản cho phù hợp với tình hình tài chính của hãng.

d) Trong trường hợp một số sản phẩm dịch vụ khác như nhà hàng. Bạn có thể lập luận rằng: Thời gian đầu, các nhà hàng có thể dùng Groupon để quảng bá để viral, WOM, etc... Nhưng bạn hãy quay trở lại nguyên tắc ở (c): Các nhà hàng cũng như hãng bay, thà chấp nhận bán khuyến mãi để tận dụng tối đa công suất phục vụ của nhà hàng, hơn là để mất hết lợi nhuận tiềm năng ở các bàn trống chỗ. Đây là một kênh bán.

e) Trong trường hợp: thông tin về sản phẩm giảm giá thường được phát ở dạng newsletter, đăng tin trên báo / internet, WOM... Khi đó, Groupon xóa đi khoảng cách giữa các hoạt động này. Nghĩa là sẽ giảm đi chi phí tiếp thị. Đây có thể xem như là một hình thức quảng bá chi phí thấp. Nhưng bắt buộc người mua phải mua hàng trên GroupOn thì khi đó GroupOn mới có lãi (Groupon chỉ là trung gian thương mại, kiếm tiền từ commission từ người bán). Khi đó, đây có thể xem như một kênh quảng bá.

Nói như vậy, không có nghĩa là các mô hình như Groupon không có tác dụng quảng bá. Tác dụng quảng bá luôn tồn tại song song với hoạt động bán hàng, nhưng không vì thế mà được xem như là một kênh quảng bá.

4) Vậy thì: Làm gì để sử dụng Groupon có hiệu quả?

Groupon hay Muachung sẽ là một kênh bán có hiệu quả nếu biết sáng tạo các deals đa dạng cho sản phẩm của mình, cũng như phải biết duy trì trong dài hạn.

5) Vậy thì: Mô hình của Groupon sẽ là...?

Nếu bạn thử tưởng tượng Groupon là một chiếc đuôi dài (The Long Tail) với đa số các sản phẩm dịch vụ giảm giá có tính chất nhỏ lẻ (tính đa dạng) sẽ nằm ở phần đuôi.

Nhưng nên nhớ rằng, hoạt động trên GroupOn còn cần phải có tính dài hạn (như đã nhắc đến ở phần 4). Chỉ khi bạn duy trì kinh doanh dài hạn, thì khi đó GroupOn sẽ chuyển dịch từ một kênh quảng bá sang kênh bán hàng. Và đây mới là mục đích của mô hình GroupOn.

5b) Vậy thì: Groupon hay Muachung có gì khác biệt với các website hot-deals đã xuất hiện trước đây?

Như tôi đã phân tích ở trên, bản chất Groupon hay Muachung là một trung gian thương mại, nên phải tìm kiếm lợi ích thương mại từ người bán. Groupon/Muachung khác với các website hot-deals trước đây ở điểm: Mua có điều kiện.

Các website hot-deals trước đây thông thường chỉ là nơi promotion các chương trình giảm giá, không có sự ràng buộc đối với người mua. Do đó: (1) không tạo ra động cơ thúc đẩy việc thực hiện hành vi mua để được hưởng lợi ích; (2) không tạo ra sức ảnh hưởng lẫn nhau để khuyến khích nhiều người mua cùng tham gia mua để hưởng lợi ích. Hay nói cách khác: các websites này chỉ đơn thuần là hoạt động promotion. 

Groupon / Muachung thì giải quyết 2 vấn đề đó bằng việc mua hàng giảm giá có điều kiện để đảm bảo lợi ích cho cả hai bên : người mua, người bán.

6) Vậy thì: Còn các ngành hàng FMCG thì sao?

Với hệ thống kênh phân phối lớn, các doanh nghiệp FMCG thường không mấy mặn mà với các mô hình như Groupon (lí do tại sao thì tôi đã nói ở phần (1)). Sử dụng các mô hình mua nhóm để dùng thử sản phẩm mới cũng không hiệu quả và hợp lý bằng các biện pháp sampling truyền thống & trực tuyến.

Nói tóm lại: Từ góc nhìn của riêng tôi, với đặc điểm: dân số trẻ, năng động; thị trường sản phẩm dịch vụ đa dạng; các dịch vụ tín dụng tiêu dùng phát triển; và số lượng các doanh nghiệp vừa và nhỏ vẫn tăng nhanh. Việt Nam sẽ là một thị trường thuận lợi cho các mô hình tương tự Groupon.

06/28/2010

social media: từ product-level lên corporate-level

  Dawn-saving-wildlife
 

Hôm rồi, tôi có ghé qua trang Facebook của chương trình "Quỹ sữa vươn cao Việt Nam" do Vinamilk khởi động, xem ra mảng social media vẫn chưa thấy thực sự hiệu quả lắm. Mấy năm trước còn thấy Vinamilk khai thác blogs, bây giờ sang Facebook thì đúng lúc "bị chặn". Tiếc cho các brands của Việt Nam mình thiếu nhiều môi trường để triển khai social media, nhất là đối với các chương trình cause marketing. Ngồi tiếc tới tiếc lui, thì chợt nhớ đến một case-study mấy tháng vừa rồi quan sát mà chưa có dịp chia sẻ - Chiến dịch "Saving Wild Life" của Dawn.

Dawn là một loại sản phẩm nước rửa chén đậm đặc của P&G, được bán ở khu vực Bắc Mỹ. Hầu như rất ít người tiêu dùng VN biết đến Dawn, nhưng người Việt ở Mỹ thì không xa lạ gì nhãn hiệu này. Được định vị là nhãn hiệu premium, hiệu quả tẩy rửa và diệt khuẩn cực mạnh, mà không ảnh hưởng đến sức khỏe người tiêu dùng, và không gây hại với môi trường (tiết kiệm nước, không hóa chất gây hại).

Ở cấp nhãn hiệu, Dawn khai thác social media để thuyết phục target audience về hiệu quả và tính năng sản phẩm. Ngược lại với mô hình kiểm nghiệm bảo chứng sản phẩm truyền thống: Đó là tìm một đơn vị có uy tín kiểm nghiệm và chứng nhận; Dawn tạo điều kiện cho người tiêu dùng kiểm nghiệm hiệu quả thực tế. Những mẹo rất nhỏ như: dùng Dawn để tẩy vết dầu mỡ trên quần áo (thay vì xà phòng giặt), dùng thay xà bông tắm chó mèo trị rận, cho đến rửa quần áo, vật dụng ăn uống và đồ chơi của trẻ nhỏ... Tất cả được phổ biến thông qua các website đánh giá hàng tiêu dùng, và các trang mạng xã hội, đặc biệt là Facebook, Youtube.

Tiến xa hơn một bước, P&G sử dụng Dawn trong các chương trình bảo vệ môi trường của tập đoàn. Chương trình tặng Dawn cho các nhân viên môi trường để giúp tẩy rửa các loài chim biển bị nhiễm dầu trong sự kiện tràn dầu tại vịnh Mexico. Mỗi người tiêu dùng khi mua Dawn sẽ kích hoạt mã sản phẩm trực tuyến để đóng góp cho campaign "Saving Wild Life". Bất cứ ai cũng có thể theo dõi chiến dịch "Dawn Saves Wildlife" tại Facebook (http://www.facebook.com/dawnsaveswildlife) và Twitter. Với 255,000 thành viên tham gia và quyên góp được 90% mục tiêu (454,000 / 500,000 USD cho các sự kiện bảo vệ các loài động vật bị nhiễm dầu) chỉ là một phần nhỏ so với sự cải thiện tích cực hình ảnh của P&G.

Ở đây, chiến lược của Dawn cũng như concept của các campaigns đều đi từ tạo lập quan hệ với người tiêu dùng từ functional benefits -> emotional benefits -> social benefits. Tuy nhiên, nếu xét về khả năng tích hợp social media thì có 3 yếu tố khiến Dawn thành công (thông cảm phải viết tiếng Anh vì e là tui không nói hết được ý):

1) Consistent with brand strategies of both Dawn and P&G (product level & corporate level)
2) Excellent communication between brands & consumers
3) Good execution

Nói đại để nôm na là: Phù hợp với brand strategy là yếu tố quan trọng đầu tiên, còn cần phải có cả sự kiên trì lẫn nhất quán. Social media đâu chỉ có "một phát ăn ngay", mà cả "mưa dầm thấm lâu" nữa. Vậy mới thấm cái chuyện triển khai social media ở product-level đã khó, tạo một chiến lược lâu dài từ product lên corporate-level lại còn khó hơn.

-------------------

Dawn Eyes Facebook for Cause Marketing

How BP's Oil Spill Will Create a Gusher of Money for P&G's Dishwashing Liquid

04/14/2010

AirAsia vào Việt Nam, liệu có nhiều thử thách?

Air-asia-airline (1)
 
Thử thách cho AirAsia tại thị trường Việt Nam


Với khẩu hiệu: "Now everyone can fly" (Mọi người đều có thể đi máy bay), AirAsia được xem là mối e ngại cho các hãng hàng không nhưng cũng đang mang đến cơ hội cho nhiều người đi lại bằng đường hàng không với chi phí thấp.

via www.thesaigontimes.vn

Một bài viết hay của tác giả Bình Nguyên đăng trên báo SaigonTimes. Tuy nhiên, Bình Nguyên đã quên nhìn đến những khía cạnh mấu chốt khác, quyết định đến sự thành công tương lai của AirAsia ở Việt Nam.

Hãng hàng không chi phí thấp hay giá rẻ?

Có một thực tế không thay đổi đối với các hãng hàng không chi phí thấp (Low Cost Carrier - LCC) là mô hình hoạt động kinh doanh với mức chi phí được giảm thiểu tối đa. Đứng từ góc độ hãng bay, rõ ràng khái niệm hãng hàng không chi phí thấp không có sự thay đổi đáng kể về cấu trúc kinh doanh. Tuy nhiên, đứng từ góc độ người tiêu dùng, khái niệm hãng hàng không giá rẻ đã thay đổi rất nhiều.

Đơn cử chặng bay khứ hồi BKK-SGN vào giai đoạn không khuyến mãi có các mức vé $265 (Vietnam Airlines), $230 (Lufthansa), $300 (Air France), và $210 (AirAsia). Trong khi 3 hãng đầu tiên là full-service, thì AirAsia chỉ là on-demand service, nghĩa là nếu người tiêu dùng chọn thêm những dịch vụ bổ sung thì giá vé sẽ tăng cao hơn $210. Điều này làm giảm mức chênh lệch giữa giá rẻ so với giá của các hãng thông thường. Tuy nhiên, đối với các đường bay chặng dài, mức chênh lệch nói trên sẽ rất đáng kể. Việc quyết định sử dụng hàng không giá rẻ hay hàng không thông thường sẽ tùy thuộc hoàn toàn vào sự quyết định của người tiêu dùng, bao gồm các yếu tố cơ bản như: độ nhạy cảm về giá, nhu cầu về chất lượng dịch vụ, sự linh hoạt về thời gian bay, chính sách dịch vụ khách hàng...

Theo quan điểm của tôi, các hãng hàng không giá rẻ thực chất là các hãng hàng không có chính sách giá linh hoạt. Sự tham gia của các hãng hàng không giá rẻ vào một chặng bay nhất định làm tăng nguồn cung số ghế bay trên chặng đó, gia tăng cạnh tranh, và làm cho mức giá giữa các hãng thấp hơn và ít chênh lệch hơn. Hoạt động với chi phí thấp tạo điều kiện cho các hãng đưa ra các chương trình khuyến mãi hấp dẫn hơn, chiết khấu đại lý cao hơn.

Cá nhân tôi đánh giá các hãng hàng không giá rẻ đã có sự thay đổi rất rõ ràng về chiến lược kinh doanh. Từ mô hình "dịch vụ giới hạn - giá linh hoạt", các hãng đã dịch chuyển sang mô hình "dịch vụ tương đương - giá linh hoạt". Điển hình là AirAsia, với chất lượng dịch vụ không hề thua kém các hãng hàng không truyền thống hạng 3 sao do Skytrax đánh giá. Từ mô hình duy nhất 1 hạng ghế, các hãng giá rẻ nay đã cung cấp thêm tùy chọn Business Class và Premium Class. Dịch vụ mặt đất, dịch vụ trong chuyến bay, dịch vụ hậu mãi đã phong phú hơn trước.

Bước lỡ nhịp của Vietnam Airlines và "cơn say giá rẻ"

Đối với LCC, nhóm khách hàng bay không thường xuyên, tầng lớp bình dân, khách du lịch trong nước và quốc tế không thuộc nhóm MICE là các segment cực kỳ quan trọng.

Còn nhớ đầu năm 2004, khi AirAsia cất cánh chuyến bay nội địa đầu tiên ở Thái Lan với thương hiệu Thai Airasia, chỉ sau 6 tháng, NokAir - hãng hàng không giá rẻ do Thai Airways nắm thị phần lớn nhất - cũng đã nhanh chóng xuất hiện trên bầu trời Thái Lan. Đến nay, NokAir vẫn là đối trọng lớn nhất của Thai AirAsia. Rõ ràng, với sự nhanh nhạy nắm bắt chuyển động của thị trường hàng không, Thai Airways đã có chiến lược hết sức đúng đắn khi triển khai thêm một hãng giá rẻ với thương hiệu mới (NokAir) để giành lại các segment nói trên. 

Ở thị trường Việt Nam, chưa biết dự án tái cấu trúc VASCO trở thành hãng hàng không giá rẻ của Vietnam Airlines đã đến mức độ nào, nhưng tôi vẫn e ngại rằng hãng hàng không quốc gia Việt Nam một lần nữa lại lỡ nhịp trong cuộc đua giành lấy các segment cấp thấp hơn.

Mắc kẹt trong "cơn say giá rẻ", Vietnam Airlines lao vào cuộc đua khuyến mãi giá vé nội địa với Jetstar Pacific mà quên mất hình ảnh của "Hãng Hàng Không Quốc Gia". Chất lượng dịch vụ có cải thiện nhưng chưa nhiều, và chưa đủ thuyết phục để người tiêu dùng nhận thấy một sự thay đổi mới mẻ của VNA. "Cơn say giá rẻ" vô hình trung lại càng làm hình ảnh của VNA thêm giảm sút trong tâm trí người tiêu dùng. Trông VNA cũng chẳng khác gì một hãng giá rẻ, hay một hãng hàng không "hàng chợ" khác.

Thương hiệu - Lợi thế lớn nhất của AirAsia

- Với ưu thế được Cục Hàng Không VN cho phép hoạt động dưới tên hiệu "Vietjet AirAsia", đây là sẽ bàn đạp quan trọng của AirAsia trong chiến lược tên hiệu của các hãng hàng không liên doanh như Thai AirAsia, Indonesia AirAsia, và có thể là Viet AirAsia trong tương lai.

- Với thương hiệu đã quen thuộc với khách du lịch quốc tế, AirAsia sẽ có lợi thế rất lớn trong hoạt động kết nối các chuyến bay quốc tế và nội địa. Tạo sự thuận tiện tối đa cho khách du lịch vào Việt Nam về thời gian transit, không phải chuyển hãng bay, tiết kiệm chi phí bay...

- Với kinh nghiệm truyền thông tiếp thị bài bản, chiến lược khuyến mãi đa dạng và rầm rộ, không khó để thấy rằng phân khúc khách hàng nội địa cũng sẽ lọt vào tay AirAsia, như Vietnam Airlines đã từng để khách hàng "chảy tự do" sang Jetstar Pacific.

- Ngoài ra, cũng cần phải kể đến sự sút giảm về hình ảnh và chất lượng của VNA, Jetstar cũng là một điều kiện thuận lợi cho AirAsia.

Vietjet AirAsia & Jetstar Pacific - Liệu có liên minh?

Trong bối cảnh ra đời các liên minh hàng không như One World, SkyTeam và Sky Alliance; sự tồn tại của một liên minh hàng không giá rẻ (LCC airline alliance) là tất yếu trong môi trường cạnh tranh toàn cầu. Từ góc nhìn của tôi, liên minh AirAsia-Jetstar vẫn chưa thực sự định hình rõ rệt. Do đó, việc hai hãng hàng không chi nhánh Vietjet AirAsia & JetStar Pacific sẽ có sự liên minh chặt chẽ trong thời gian đến là điều hoàn toàn khó có thể xảy ra.

Hiện nay, các tuyến bay chủ yếu của Jetstar vẫn là các thành phố của Úc châu đến các địa điểm ở Đông Nam Á và Đông Á. Trong khi đó, AirAsia đã đạt được độ phủ dày đặc về mạng bay tại Đông Nam Á. Tại Việt Nam, Jetstar cũng đã có tuyến VN-Úc và các tuyến nội địa, do đó, hợp tác nối chuyến, dời chuyến, gộp chuyến là điều khó khả thi. Hơn nữa, hệ thống giữ chỗ và thanh toán trực tuyến của hai hãng cũng chưa kết nối và đồng bộ với nhau.

Tuy nhiên, hai hãng có thể hợp tác theo thỏa thuận codeshare (một trong những hình thức hợp tác đơn giản nhất, và hiệu quả rõ rệt nhất của các liên minh hàng không) để khai thác đội bay hiệu quả nhất, và giúp AirAsia nhanh chóng khai thác những tuyến bay nội địa khác của VNA và VASCO mà trước đây Jetstar chưa có điều kiện thực hiện.