8 posts categorized "Social Networks"

09/17/2011

Tám về Sina Weibo, Twitter, và Google+

Screen Shot 2011-09-17 at 11.35.19 PM

 

  1. Google+ ra mắt, tôi đã nhận xét nó giống mô hình của Weibo hơn là Twitter.
  2. Trước khi Facebook giới thiệu giao diện profile mới vào ngày 21/9, Sina Weibo đã thử nghiệm giao diện mới. Điều trùng hợp là rất giống giao diện của Google+ & Facebook.
  3. Thời gian ở Bangkok, mỗi ngày ngồi metro, skytrain; cứ giờ tan tầm là tàu điện chật ních những người trẻ. Không ai nói với ai câu nào, tất cả chỉ là sự im lặng tập trung vào màn hình điện thoại.

    Cuộc sống trên đường phố của những người Thái trẻ là Facebook, Twitter, Whatsapp, Blackberry, iPhone, Android.

    Yahoo hay Nokia chỉ là những cái tên của quá khứ. Ngay cả MSN Messenger phổ biến một thời, nay chỉ dùng để chat tại gia.
  4. Khi sang Hongkong, Shenzhen một thời gian ngắn, cuộc sống trên tàu điện và đường phố của những người trẻ cũng cắm mặt vào màn hình không khác nhiều ở Bangkok.

    Điều khác dễ thấy là người trẻ Trung Quốc dùng QQ, Renren, Weibo trên iPhone, Android, Blackberry. Ở coffeehouse hoặc food court, nơi có wifi miễn phí, đôi lúc thấy họ dùng PPLive hoặc QQLive - những chương trình xem TV trực tuyến bằng công nghệ P2P rất phổ biến ở Trung Quốc.

    Mức độ ứng dụng công nghệ của những người trẻ Trung Quốc nhanh đến mức đáng kinh ngạc.
  5. Năm 2007, ở Trung Quốc, rất nhiều clones của những dịch vụ nổi tiếng ở Hoa Kỳ và Hàn Quốc.

    Năm 2010, người Trung Quốc bắt đầu tạo ra bản sắc riêng. Vẫn có clones, nhưng mô hình thì của riêng họ.

    Có phải sức ảnh hưởng quá lớn của công nghệ Trung Quốc đến mức tạo cho tôi cảm giác Google+ giống Weibo hơn là Twitter? Nếu đúng thì mô hình Sina Weibo có gì hay?
  6. Giá trị của Sina Weibo đến từ sự độc lập. Thương hiệu Weibo tách rời khỏi các web-services khác của Sina, nó không đi theo kiểu “all-in-one” như QQ đã làm với QQ Weibo.
  7. Sina Weibo là ecosystem có kiểm soát.

    Apps của Twitter được phát triển bởi các hãng thứ ba.

    Appstore của Sina Weibo bao gồm apps & games: từ các dịch vụ của Sina (music, shopping, news, radio); và 3rd-parties apps được cho phép.

    Ecosystem của Sina Weibo chính xác là cái mà Google+ sẽ trở thành.
  8. Ở Hoa Kì, người ta giành lấy từng hành vi tiêu dùng của khách hàng. Ở Trung Quốc, người ta giành lấy từng giây thời gian tiêu dùng của khách hàng.

    Đó là lí do vì sao Facebook tích hợp.
    Đó là lí do vì sao Google đẻ ra Google+.
    Đó là lí do vì sao Sina Weibo có gần như mọi ứng dụng để khách hàng khỏi phải chạy sang QQ.

     Thời gian là vàng!
  9. Văn hoá “Mục lục web”.

    Ai còn nhớ Yahoo Directory những năm 97-99? Nhưng ở những nước châu Á như Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và Thái Lan thì mục lục web vẫn tồn tại.

    Twitter - Chủ đề thể hiện bằng #hashtags, tất cả đều ngang nhau, không thứ bậc trật tự; chỉ khác ở mức độ quan tâm.

    Weibo - Chủ đề thể hiện mọi chủ đề theo “mục lục web”, có trật tự thứ bậc, trên dưới; mà vẫn thể hiện được mức độ quan tâm ở mỗi chủ đề.

    Đó là sự khác nhau giữa hỗn độn và ngăn nắp.
  10. Nếu phải so sánh hình thức giữa một “tweet” và một “weibo”, tôi có thể nói ngắn gọn: Twitter là SMS; và Sina Weibo là MMS.

    Cách thể hiện stream của Google+ là ví dụ về Sina Weibo.
  11. Điểm gì chung nhất ở Cyworld Hàn Quốc, QQ và Sina Weibo?

    QQ có hệ thống huy hiệu; Cyworld có hệ thống “điểm quan hệ”; Sina Weibo có hệ thống huân chương - Người ta hay mô tả mô hình này với khái niệm gamification.

    Hệ thống gamification của Sina Weibo bao gồm khoảng 50 loại huân chương; và hệ thống rankings. Mỗi huân chương tồn tại trong vòng 24h, và thời hạn có hiệu lực để thưởng khác nhau, và thưởng cho từng hoạt động nhất định của người sử dụng Weibo. Nghĩa là: Khuyến khích liên tục chia sẻ và sáng tạo - Muốn có huân chương thì phải chạy đua!

    Twitter có gì? Người nổi tiếng thì mãi là người nổi tiếng, còn tweeter thì mãi là tweeter; chỉ có con số followers để tự sướng.
  12. Sina Weibo là thảo luận, Twitter là tán dóc.

    Sina Weibo có hai chế độ hiển thị messages: discussion thread (dành cho thảo luận); và dialogue (dành cho tán dóc). Nghĩa là nó giúp users dễ dàng theo dõi mạch thảo luận; đặc biệt đối với những chủ đề nghiêm túc.
  13. Sina Weibo hướng đến cộng đồng, Twitter hướng đến đám đông.

    Có bao nhiêu mối quan tâm mà Twitter cung cấp ở mục “Who To Follow”? Không nhiều, những quan tâm chung chung dành cho đám đông.

    Weibo giải quyết bằng cách đưa ra “Club” - nơi tập trung đa dạng từ chủ đề cho đến sở thích.

    Ở qui mô nhỏ hơn, Weibo cho phép phân nhóm theo mối quan hệ. Hãy nghĩ về lists của Facebook và Circles của Google+.
  14. Weibo dành cho người "lười"

    Hầu hết những người tiêu dùng đều "lười". Tại sao mô hình portal all-in-one vẫn thông dụng ở Hàn Quốc, Trung Quốc? Vì lười! Người ta cần đến những nơi thông tin sẵn có hơn là gõ Search.

    Design concept của Sina Weibo đều có một landing page cho từng mục. Để làm gì? Phục vụ những người lười. 
  15. Khuyến khích danh tính thật

    Nhiều người Mỹ, và ngay cả ở Việt Nam phê phán Real-name policy của Google+. Nhưng chính họ lại ủng hộ tính minh bạch & danh tính thật trong môi trường Social Media. Đó là nghịch lý.

    Người Hàn Quốc đã sống với real-name policy gần 15 năm.

    Ở Sina Weibo, real-name policy là không bắt buộc, nhưng người ta cũng không thể giấu.
  16. Sina Weibo có chiếc áo của Twitter, nhưng ruột rà giống Facebook.

    Giống như Zing có thể đã có Zing Me, nhưng vẫn có thể có Zing Live. Có một bài học từ QQ: Cannibalization nếu quản lý không tốt.
  17. Năm 2007, tôi học tiếng Hàn để hiểu về xu hướng công nghệ của Hàn Quốc.

    Năm 2011, nếu có ai hỏi, tôi sẽ nói: Học tiếng Trung.
  18. Cuối cùng, chính phủ Trung Quốc nhìn Sina Weibo nói riêng và social media như thế nào? Đã thảo luận với @taitran ở đây: https://www.facebook.com/taitran/posts/10150301795461693

 

05/24/2009

microsite hay macro-microsite???

Photobucket


Nhờ bỏ cái lunch với các GM của 5-star hotels ở Đà Nẵng mà có dịp nói về một cái topic mà lâu nay tui tưởng tui đã quên: Microsite! Số là ngồi 8888 với một người bạn về microsite. Tôi mới rút ra một kết luận là ngày nay, chúng ta dường như đang mặc cho microsite một chiếc áo quá khổ. Nói cách khác, đó là ép nó phải gánh vác những vai trò vốn dĩ đã thuộc về nhược điểm của microsite, thậm chí, còn nhầm lẫn microsite với website của doanh nghiệp.
Hầu hết các microsite hiện nay được các online marketers sử dụng như teaser, hoặc phục vụ cho các campaigns. Bởi vậy, các microsite thường rất hữu dụng khi cần triển khai các chiến lược truyền thông chuyên biệt, nội dung truyền thông thường có tính chất tập trung cao. Do có bản chất như vầy, nên tuổi đời của microsite thường là ngắn.

Gần đây thì có microsite cho chiến dịch "7 Days 2 Love" của Pond's http://www.7days2love.com/. Tôi rất thích microsite này bởi nó tạo được cảm xúc với visitor ngay từ đầu bằng màu hồng dịu nhẹ, animation, hình ảnh cho đến giai điệu piano rất hay ở background. Nhưng cũng vài minisite mà tôi không thể chịu nổi, như microsite cho chiến dịch "Life Can't Wait" của Sunsilk (đọc phàn nàn ở đây: Life is the Wait! - http://im.doquangtu.net/post/82727058). Hoặc nghèo thông tin như website của Vaseline (www.vaseline.com.vn) - Microsite của "Chuyên gia dưỡng da toàn thân" mà lại nặng tính quảng cáo hơn là tính chuyên gia và consumer-education.

Có quan điểm cho rằng nên tìm giải pháp duy trì và nâng cấp nó (http://vietnga.vxix.com/?p=35). Đây là cũng là một giải pháp sáng tạo nhưng cá nhân tôi nghĩ: liệu có cần thiết phải thay đổi hay không?

- Với tốc độ sinh sản của muôn hình vạn trạng của các loại microsite. Việc giữ chân khách hàng trên các microsite là điều rất khó.
- Hầu hết các microsite được xây dựng rất nhanh, nếu không muốn nói là quá vội vàng. Nên sẽ khó mà mở rộng ra.
- Nếu duy trì một cộng đồng trên microsite thì có khác gì với việc chúng ta đang tự đi xây dựng lại một mạng xã hội thu nhỏ??? Để làm gì? Một khi vai trò đó nên được gán cho website chính thức của sản phẩm hoặc dịch vụ.


Chi bằng khai thác tốt nhất những ưu điểm của microsite nhưng gắn kết nó với các môi trường truyền thông trực tuyến, như các mạng xã hội... Các microsite vẫn sẽ tồn tại song song với các official site và community site.

Chẳng nói đâu xa, nhìn qua website của Britney Spears (www.britneyspears.com) và mạng xã hội dành cho Britney fans (www.circusvip.com). Một case-study rất hay đáng để các online marketers Việt Nam học tập. Gần hơn nữa là dự án IAC của Nokia, do NS Quốc Bảo làm webmaster. Dự án này kéo dài đến 2 năm (vừa đóng cửa hôm 1/5 vừa qua). Nếu IAC chỉ bèo bọt như các microsite nói trên, mà không được đầu tư mở rộng thành một community site thì có thu hút được một bộ phận không nhỏ các nghệ sĩ độc lập ở VN như mong muốn hay không. Riêng LG cũng đã liên kết với Cyworld để xây dựng cộng đồng cho các nhãn Lacvert Essence và DTDD LG hơn 1 năm nay. Thước có sở đoản, tấc có sở trường. Đâu phải cứ nhét hết tất cả vào một microsite mới gọi là tốt nhất!

Thêm một ý nữa, nói là xây dựng một online community xung quanh brand nghe có vẻ dễ nhưng thực tế thì trái ngược như vậy. Ông bà ta có câu: Chơi dao có ngày đứt tay! Social media là con dao 2 lưỡi nên càng phải thận trọng hơn nữa. Đừng để cái online community mà các brand managers xây nên lại chính là brand-killer.

If your microsites aren't broken, so don't fix it!

03/18/2009

Facebook - back to basics

Mặc dù đã phải gào lên "FACEBOOK! GET FUCKING SH!T APPS' NOTIFICATIONS OUT OF MY NEWSFEED!!!!!!!!!!!!!!!!!", không thể phủ nhận là những thay đổi mới nhất của nó đã mang đến nhiều điều thú vị xung quanh chiến lược phát triển của mạng xã hội này.

Facebook - quản lý quan hệ truyền thông

Nói Facebook là môi trường truyền thông thì hẳn là không có gì phải bàn cãi.

Bản chất của FB, thực ra cũng tương tự với nhiều MXH tiền thân khác, chính là quản lý quan hệ truyền thông. Hai mặt truyền thông và quan hệ luôn song hành và có ảnh hưởng tương hỗ với nhau. Tồn tại truyền thông chưa hẳn đã tạo ra quan hệ ( đối tượng đã tiếp nhận thông điệp nhưng không phản ứng để tạo ra quan hệ ), tuy nhiên quan hệ không thể thiếu truyền thông. Ở đây, có một ví dụ nhỏ: 2 người bạn không gặp nhau sau 10 năm vẫn nhận ra nhau thì có thể xem là "quan hệ không có truyền thông"? Theo tôi ở đây vẫn có truyền thông tồn tại thông qua nhiều dạng dữ liệu (hình ảnh diện mạo, âm thanh, trí nhớ...). Facebook được sinh ra, cũng giống như điện thoại hay nhiều phương tiện truyền thông khác trong quá khứ, để giải quyết vấn đề của quan hệ truyền thông.

Tôi không có ý định gán cho FB là MXH hướng nội dung hay hướng quan hệ cũng vì lẽ đấy. Bởi core của FB từ trước đến giờ vẫn là kết nối và chia sẻ, thể hiện mối liên quan mật thiết giữa quan hệ và truyền thông.

Trước khi thay đổi giao diện mới, FB đã cho tách rời các ứng dụng quan trọng của mình (Marketplace, Notes, Videos, Photos) ra khỏi core của nó. Marketplace bây giờ là ứng dụng Oodle. Notes, Videos, Photos đều có thể ẩn đi. Đồng thời, FB mở rộng cửa API của mình, đưa các dịch vụ ngoài như Youtube, Imeem, Flickr, hay Tumblr gần như ngang hàng với các dụng Notes, Videos, Photos. Đây là lúc FB nên rút về lõi, nhường các dịch vụ đa chức năng cho các nhà phát triển bên ngoài.

Facebook đang trở về những điều căn bản nhất của nó như tôi đề cập ở trên.

Vậy thì Facebook nó sẽ trở thành cái gì?

Trong một bài phân tích về các MXH vào T5/2007, tôi có đề cập đến giai đoạn thứ 4 của một MXH đó là: "trung tâm truyền thông xã hội (Social Media Center - SMC)". Facebook đang trở thành một trong những SMC (chính xác hơn là HUB) nơi những luồng thông tin về truyền thông và quan hệ lưu chuyển liên tục. Nghĩ cho đơn giản, hệ thống của FB có nét giống như một đài phát sóng (TV hay radio).

Ta đã biết người dùng FB tạo ra những nội dung có tính chất cá nhân hóa cao độ. Nhưng FB có tạo ra những nội dung có tính chất đại chúng? Có hai loại nội dung đại chúng:
1) Bản chất phục vụ cho đại chúng ( tin tức từ báo điện tử, phim, âm nhạc, search engine )
2) Bị chuyển hóa thành nội dung đại chúng thông qua viral effect

Theo như giả thuyết của tôi, FB đang trở về core-value của nó, do đó FB không tạo ra (1) và chỉ là công cụ hay môi trường cho (2). Nghĩ cho đơn giản, các TV shows bạn xem không phải do đài truyền hình tạo ra, mà là các công ty sản xuất nội dung xây dựng.

Điều đó cũng có nghĩa là Yahoo hay Google phải tạo ra nội dung đại chúng (News, Search, và các thể loại content khác), và lưu giữ những nội dung cá nhân hóa của người dùng (Youtube, Flickr, Google Docs).

Còn những Netvibes hay FriendFeed? Hãy làm điều gì đó khác biệt hơn.

PS: Nể concept "Activity Stream" của Jaiku!

Viết lẹ còn làm việc kiếm sống. Ai hông hỉu. Kệ!