Tháng sáu, năm 2005, người dân Đà Nẵng nói riêng, và Việt Nam nói chung đột ngột bất ngờ trước thông tin bãi biển Đà Nẵng nằm trong danh sách “Các bãi biển đẹp nhất hành tinh” do tờ tạp chí Forbes của Hoa Kỳ công nhận. Có lẽ, những ai đã từng ở trong thời điểm đó hẳn đều cảm thấy tự hào như thế nào. Giới truyền thông có đặt ra một câu hỏi cho lãnh đạo của Đà Nẵng, bấy giờ cũng bất ngờ trước kết quả bình chọn, rằng: Thành phố sẽ làm gì với bãi biển hấp dẫn nhất hành tinh?
Chỉ sau 5 năm, bãi biển Đà Nẵng đã chuyển mình như thế nào? Bãi biển trở nên sạch đẹp hơn, qui cũ hơn, an ninh hơn. Nhiều công trình và cơ sở hạ tầng được chỉnh đốn khang trang, những khu khách sạn nghỉ dưỡng bên biển bắt đầu xuất hiện san sát nhau, khách du lịch đến với Đà Nẵng nhiều hơn. Bãi biển Đà Nẵng trở nên đẹp hơn trong mắt mỗi người dân.
Ví dụ điển hình về bãi biển Đà Nẵng cho thấy một điều: Bản thân danh hiệu vốn dĩ đã có sức ảnh hưởng tích cực nhất định đến ý chí và thái độ của con người. Tuy nhiên, việc có tận dụng tối đa được lợi thế đó hay không thì lại là một câu chuyện khác.
Chưa cần phải biết cái danh hiệu đó là "ảo" hay "không ảo", ở đây có một điều hiển hiện: Sự tự hào, lòng yêu nước vô tư của mỗi người dân khi đất nước được tôn vinh là có thật, và điều đó đáng được trân trọng; chứ không dành để phán xét kiểu bề trên một cách đơn giản rằng điều đó là khôn ngoan hay mù quáng. Nếu cái sự mù quáng đó có thể biến được một bãi biển nhếch nhác, dơ bẩn thành ra như ngày nay thì nó càng nên được khuyến khích, còn hơn là tỏ vẻ khôn ngoan và chẳng làm gì cả!
Sau gần 4 năm, tôi có cơ hội tiếp cận nhiều tài liệu tiếp thị của các dự án du lịch trong nước, một số luận văn về du lịch, và cũng như một số bài phân tích về tiếp thị du lịch Đà Nẵng. Điều khiến tôi ngỡ ngàng là những tài liệu này vẫn còn sử dụng thông tin quảng bá "danh hiệu Bãi biển đẹp nhất hành tinh do tạp chí Forbes trao tặng" từ năm 2005!
Một sự thật về danh hiệu “Bãi biển đẹp nhất hành tinh” do tạp chí Forbes trao tặng vào năm 2005 mà không nhiều người biết cụ thể: Đây là tựa đề của một bài báo của phóng viên du lịch Sophia Banay đăng trên phiên bản báo mạng Forbes.com Lifestyle của tạp chí Forbes vào ngày 2 tháng 6 năm 2005. Thời điểm đó, Sophia vẫn là staff writer, và tuổi đời còn rất trẻ. Bài báo "World's Most Luxurious Beaches" thực chất chỉ là một danh sách do chính Sophia tự tổng hợp và viết ra, chứ không hề có sự tham vấn lẫn chọn lựa theo tiêu chí của một hội đồng đánh giá do tạp chí Forbes lập ra. Hơn nữa, đây chỉ là một online article (bài báo mạng) chứ không được đăng trên phiên bản tạp chí thông thường (tức báo giấy) của Forbes. Tóm lại, bài báo đó chỉ đơn thuần là một trong hàng trăm ngàn bài báo mạng về du lịch được đăng tải mỗi năm trên internet, không hơn không kém!
Danh hiệu "Bãi biển đẹp nhất hành tinh do tạp chí Forbes trao tặng" là một thứ không có thật. Cho đến nay, tôi hầu như không thấy cái tên Bãi biển Đà Nẵng xuất hiện trong những danh sách bãi biển đẹp nhất thế giới nào. Có dịp tiếp xúc với nhiều người làm du lịch nước ngoài, lẫn khách du lịch quốc tế, khi tôi chia sẻ về danh hiệu này của Đà Nẵng, hầu hết họ đều rất ngạc nhiên vì từ trước đến nay chưa hề biết Đà Nẵng lọt vào một danh sách nào như vậy. Danh sách "Travelers' Choice 2011 The Best Beaches" của Tripadvisor, một website rất có uy tín về du lịch, được đánh giá và công bố mỗi năm bởi chính cộng đồng khách du lịch toàn thế giới cũng không hề có tên bãi biển Đà Nẵng. Nên nhớ rằng mỗi năm, ít nhất là hàng chục danh sách đánh giá về bãi biển du lịch thế giới có uy tín được công bố. Nói như thế để thấy rằng cái giá trị từ danh hiệu "đẹp nhất thế giới", cho dù có được tạp chí Forbes trao tặng thật sự đi chăng nữa, thì cũng đã trở nên lỗi thời. Trong thời điểm hiện nay, giá trị quảng bá của cái danh hiệu kia chính là con số không tròn trĩnh. Hơn nữa, xét về khía cạnh tiếp thị du lịch, không thể nào định vị một điểm đến dựa trên một giá trị mà nó không hề có thật. Những ai quan sát về du lịch Đà Nẵng vài năm gần đây sẽ để ý rằng Đà Nẵng hầu như đang bị mắc kẹt và không thể thoát ra khỏi cái danh hiệu ảo này. Đó chính là mặt trái của việc quá ảo tưởng vào danh hiệu.
Một ví dụ gần đây nhất về danh hiệu "New7Wonders of Nature" dành cho Dòng sông ngầm Puerto Princesa của Philippines. Đích thân tổng thống Noynoy Aquino và nội các công khai vận động toàn dân tham gia bầu chọn, hãng hàng không quốc gia Philippines Airlines cũng tổ chức chiến dịch quảng bá cho Dòng sông ngầm Puerto Princesa của đất nước họ. Từ khoá "New 7 Wonders" trở thành Trending Keyword trên mạng xã hội Twitter, tràn ngập lời chúc mừng của chính người dân đảo quốc này. Nếu không theo dõi chiến dịch "New7Wonders", chắc chắn tôi cũng không biết Philippines có một kỳ quan tự nhiên đẹp đến như vậy.
Hãy khoan nói đến chuyện danh hiệu ảo, hay không ảo, vô bổ hay không, phung phí tiền bạc hay không; rõ ràng rằng người Philippines đã rất biết cách tận dụng "New7Wonders" để quảng bá cho thắng cảnh thiên nhiên của họ. Không linh đình tiệc rượu tốn kém, không ca nhạc văn nghệ tổng kết, không đại sứ du lịch, không thúc ép người dân, thành công của Philippines chính là vận động được sức mạnh của cả quốc gia bằng sự tự nguyện của tổ chức và nhân dân. Xét về hiệu quả chi phí, rõ ràng Philippines làm tốt hơn chiến dịch vịnh Hạ Long của Việt Nam.
Có ý kiến cho rằng, với chừng 700,000 USD của chiến dịch quảng bá Hạ Long của Việt Nam, có thể thực hiện chiến dịch truyền thông hiệu quả hơn.Nếu chúng ta tự thực hiện, 700,000 USD đó có thể sẽ trở thành một sai lầm tương tự đã từng được lặp lại: Vài chục giây quảng cáo tvc trên BBC và CNN, và chẳng thay đổi được gì cả!
Quan điểm của tôi thì thận trọng hơn. Khi nói về sự chuyển mình của Đà Nẵng, tôi sử dụng cụm từ “chỉ sau 5 năm” để nhấn mạnh rằng: Quảng bá du lịch không phải có thể thực hiện một sớm một chiều. Ít nhất là 5 năm, và nhiều nhất có khi lên đến 10 năm như trường hợp của Malaysia mà vẫn chưa thể cạnh tranh ngang với Singapore và Thái Lan. 700,000 USD hay 700 triệu USD không phải là vấn đề, mà vấn đề ở đây chính là góc nhìn và chiến lược. Và cơ hội để được quảng bá quốc tế là không có nhiều.
Tôi không hề vote cho Hạ Long dưới bất kỳ hình thức nào trong chiến dịch của “New7Wonders”, bởi vì bản thân danh hiệu “Di sản văn hoá thế giới” được UNESCO công nhận vào năm 1994 đã là một “bảo chứng thương hiệu” rồi. Không chỉ vậy, khác với bãi biển Đà Nẵng, Hạ Long đã có rất nhiều lần cơ hội quảng bá. Một khi không thể nắm bắt cơ hội để tạo nên sức bật thì dù có đổ vào bao nhiêu cơ hội cũng như dã tràng xe cát vậy.
Ba ví dụ về bãi biển Đà Nẵng, Hạ Long và dòng sông ngầm Puerto Princesa cho thấy ba cách nhìn nhận khác nhau về giá trị của danh hiệu. Câu hỏi đặt ra ở đây là: Du lịch Việt Nam phải cần thêm bao nhiêu cái danh hiệu nữa mới thực sự có thể cạnh tranh ngang ngửa được với các quốc gia trong khu vực?
Sân bay quốc tế Kuala Lumpur, khoảng 4h chiều, chiếc Boeing 747-400 màu xanh trắng của KLM, hãng hàng không hoàng gia Hà Lan, lầm lũi tiến ra đường băng dưới ánh nắng chiều vẫn còn chói chang của bầu trời Kuala Lumpur.
KLIA, như người ta vẫn gọi tắt tên phi trường này, một trong những sân bay hiện đại nhất Đông Nam Á. Nhưng, tôi phải nhấn mạnh chữ “nhưng” này, chưa bao giờ có được cái không khí tấp nập và sầm uất lẫn trong nhà ga và đường băng như ở Changi hay Suvarnabhumi.
Tôi ngồi đó, và tự hỏi: Tại sao sau chục năm quảng bá du lịch không ngừng nghỉ, hàng tỉ đôla đầu tư vào du lịch, lại không hề xa lạ với các giải pháp tiếp thị du lịch, Malaysia vẫn lầm lũi tiến sau Indonesia, Singapore? Có lẽ sẽ dành một dịp khác để nói về du lịch Malaysia nhiều hơn.
Đối với rất nhiều người, hình ảnh chuyến bay của KLM từ Amsterdam đi Kuala Lumpur không có mấy nhiều ấn tượng. Đã 87 năm kể từ 1924, đây là một trong những chuyến bay thương mại lâu đời nhất thế giới vẫn còn hoạt động. Cũng dài lâu như chính sự ảnh hưởng của người Hà Lan đến Melaka trong 184 năm (1641-1825).
Tôi rời ga tàu điện Bukit Jalil. Cách đó vài trăm met là bến xe tạm thời của Kuala Lumpur. Thấy một balo trên vai, và một balo trên tay, đâu chừng liền 5-6 người chạy đến la lên hỏi: “Melaka? Melaka? You go Melaka?”. Dù sao cũng chỉ hơn 100km, và gần 2 tiếng đi xe, tôi chọn đại một nhà xe, trả khoảng $4 (12 MYR) và khởi hành đi Melaka.
Sau chừng ấy thời gian, xe đến bến xe trung tâm Melaka, chờ thêm 30 phút nữa để bắt xe bus nội thị chạy vào khu phố cổ Melaka, chỉ mất 1 MYR (~ 7,000 đồng). Trời trưa nắng gắt, xe bus cũ kĩ, không điều hoà.
“Anda pergi untuk Christ Church?” Ông tài xế già mồ hôi nhễ nhại gật đầu không cười để đáp lại câu hỏi của tôi. Tôi mỉm cười chìa 1 MYR và ngồi đại xuống đâu đó. Hai bà cô người Hoa đang ríu rít với nhau chồm lên tôi nói một tràng tiếng Trung Quốc, tôi mỉm cười xua tay “Not Chinese, not Chinese” sau rất nhiều lần như thế này ở Malaysia.
Thêm một đôi nam nữ người Anh, tay xách nách mang, cầm theo cuốn Lonely Planet, thấy tôi cũng khệ nệ balo, họ cũng leo lên xe và ngồi gần bắt chuyện. Vậy là thêm khoảng 30 phút chờ đợi trong cái xe nóng như lò hấp thì mới khởi hành.
Xe bus dừng trước nhà thờ màu đỏ gạch, rất quen thuộc trên các website về Melaka, ông tài xế quay lại, hướng mắt về 3 người chúng tôi: “Christ Church! Christ Church! Go, go!”
Jalan-Jalan guesthouse, ngay trung tâm phố cổ Melaka, phòng đơn, giường, quạt, bàn nhỏ, không điều hoà, khu vệ sinh thì dùng chung, chỉ khoảng $8.5/đêm. Tiếp tôi là một anh người Đức, du lịch vòng quanh Đông Nam Á, nhưng đã bị lừa mất tiền gần nhẵn túi ở Thái Lan. Rốt cuộc, anh đến Melaka và làm thêm ở đây kiếm tiền tiếp tục chuyến đi thay vì gọi về nhà ở Đức để cứu viện.
Một người châu Á da vàng du lịch đơn thân ở một nước châu Á nghe thì có vẻ an toàn hơn một người da trắng mắt xanh mũi lõ.
Ở Thái Lan, người ta nghĩ tôi là người Hàn Quốc hay Nhật Bản. Ở Bali, Indonesia, tôi thách một bác tài xế người Indo vui tính nếu đoán đúng quốc tịch thì tôi sẽ boa thêm một số tiền nữa. Thế là bác ấy tha hồ đoán từ Singapore, Đài Loan, Hàn, Nhật, Trung Quốc. Cho đến khi tôi chìa passport Việt Nam, bác ấy mới ồ lên. Nhưng tôi vẫn boa số tiền như đã hứa. Ở Malaysia, người ta nhìn thấy tôi và họ mặc định tôi là người Trung Quốc.
Xung đột sắc tộc giữa người Hoa và người Malay đã kéo dài hàng thập kỷ ở Malaysia. Mâu thuẫn sắc tộc sâu sắc đến mức nó đã trở thành một yếu tố quan trọng góp phần vào sự thành lập nhà nước Singapore, tách khỏi liên bang Mã Lai. Cho đến nay, người Hoa vẫn bị phân biệt đối xử ở Malaysia, xung đột Hoa-Mã vẫn còn là một đề tài chính trị nóng bỏng cùng với những bạo động ở Kuala Lumpur. Nhưng Melaka chưa bao giờ là mặt trận của xung đột bạo lực đó.
Khu phố cổ Melaka nằm ngay tại cửa biển của sông Melaka. Nói là sông, nhưng tôi cứ ngỡ nó là một con rạch vì nó nhỏ chứ không phải nó bẩn. Sông Melaka chia đôi khu phố cổ thành hai nửa: một bên là khu phố Trung Hoa đậm màu sắc kiến trúc Phúc Kiến và Quảng Đông, làm gợi nhớ rất nhiều đến Hội An. Nửa còn lại là những ngôi nhà, nhà thờ và thành luỹ còn sót lại từ thời thực dân Bồ Đào Nhà và Hà Lan.
Từ bùng binh Christ Church, tôi đi bộ về hướng đường Kota, đối diện với Bảo tàng Hồi giáo Melaka là một khu cây cối um tùm với một toa xe lửa và một chiếc máy bay cổ. Những cây cao này chính là cây Melaka, mà người Hoa gọi là cây Dư Cam Tử. Cái tên Melaka cũng từ đó mà ra, trái với suy nghĩ sai lầm ban đầu của tôi rằng Melaka là một cái tên chịu ảnh hưởng của người Bồ Đào Nha.
05 giờ sáng, trời vẫn còn rất tối và mưa lất phất, Melaka vắng lặng như một khu phố hoang. Tôi một mình cầm dù và máy ảnh bước từng bước chậm rãi dưới mưa, và ánh đèn vàng rất huyền bí phản chiếu nên nền đường ẩm ướt.
Tiếng ngâm thơ berzanji từ đâu đó cứ vọng đi giữa từng hẻm ngách của phố cổ Melaka. Tôi không hiểu những câu thơ đó có ý nghĩa như thế nào, nhưng nó rất da diết, khắc khoải, sầu não và có chút gì ai oán. Đó có phải là tiếng của hàng ngàn mang người Mã Lai, Hoa Kiều, Hồi Giáo, Bồ Đào Nhà, Hà Lan, Anh Quốc, Ấn Độ đã nằm lại dưới mảnh đất này hay không? Hay đó là thứ âm thanh phản chiếu tâm trạng của tôi ngay bấy giờ hay không? Tôi không thể giải thích được.
Melaka là một thương cảng huyền thoại. Nơi Đông và Tây hội ngộ. Người Mã Lai đã tìm ra Melaka. Người Ả Rập men theo biển Ả Rập và vịnh Bengal để đến Melaka. Người Ấn Độ cũng theo đó mà tìm đến. Người Trung Quốc cổ xưa cũng theo biển Nam Trung Hoa để đến Melaka. Sự thịnh vượng của Melaka càng quyến rũ lòng tham của người Bồ Đào Nha, Hà Lan và Anh Quốc.
Melaka hiện nay đã trở về tay người Mã Lai và dưới sự ảnh hưởng Hồi giáo sâu sắc. Nhưng lịch sử của nó hàng trăm năm nước không hề bị mất đi. Nó vẫn còn rất sống động, hiện hữu.
Tôi đem thắc mắc về lời ca rất ai oán giữa rạng sáng ở Melaka hỏi Saffa, cô bạn người Mã. Cô bảo đấy là berzanji, kinh thơ bằng tiếng Ả Rập thường phát vào những giờ cầu nguyện của người đạo Hồi ở Melaka.
Với tôi, đó như là tiếng kinh thơ triệu hồi lịch sử. Tôi thực sự khuyên bạn hãy ở Melaka một mình vào thời khắc như thế này. Bởi vì đó mới chính là lúc lịch sử thực sự sống lại ở nơi đây.
Nửa cuối thế kỷ 15, người An Nam đã xâm chiến trọn vẹn vương quốc Champa. Cùng thời điểm này, Melaka, chưa bị thực dân phương Tây dòm ngó, vẫn đang hưởng thụ sự giàu có đến từ giao thương giữa người Hoa, Mã với người Ấn và Ả Rập. Lịch sử Trung Hoa ở Malaysia nói rằng: Sau khi đánh chiếm Champa, người An Nam trước sự giàu sang không thể nào cưỡng lại của Melaka, manh nha tiến về bán đảo Mã Lai để chinh phục thương cảng huyền thoại này.
Trái với thái độ xâm lăng của người Thái Lan, quan hệ Trung Hoa - Mã Lai có thể xem là rất ôn hoà, như câu chuyện công chúa nhà Minh được gửi sang Mã Lai kết hôn với một vị Sultan của Melaka, tạo ra thế hệ người Hoa lai Mã, hay còn gọi là người Peranakan.
Hẳn ai hay xem VTV3, sẽ còn nhớ bộ phim “Chuyện tình cô bé Lọ Lem” của Singapore rất nổi tiếng (tựa tiếng Anh là The Little Nyonya). Một bộ phim rất hay về lịch sử, văn hoá, và cuộc sống của người Peranakan ở Melaka.
Phố cổ Melaka, lớn hơn Hội An một chừng mực nào đó, tuyệt nhiên không hề có bóng dáng bar, nhà hàng, không hề có sự sầm uất như của Hội An. Buổi tối ở Melaka rất buồn tẻ, ngoài trừ khách sạn Aldy ở đầu đường Kota hay có nhạc sống mỗi đêm, phần còn lại của Melaka vẫn rất yên tĩnh.
Nằm cách Kuala Lumpur chỉ khoảng 2h đi xe nên hầu hết khách du lịch đến Melaka chỉ đi và về trong ngày. Có khi khách du lịch bỏ qua Melaka để đi Penang, một nơi tương tự như Melaka, vì gần với Langkawi hơn. Ngoài ra, sinh viên trường mỹ thuật ở Kuala Lumpur cũng hay đến Melaka để sáng tác. Tôi nghĩ điều này hoá ra lại rất hay, vì có vậy mà Melaka mới giữ được cái không khí lịch sử của nó.
Chính quyền Melaka không chủ trương ủng hộ việc thương mại hoá khu phố cổ Melaka, hầu hết các tụ điểm sinh hoạt du lịch đều nằm ngoài phạm vi phố cổ. Điều mà phố cổ Hội An đang phải khó khăn mới gìn giữ được.
Lịch sử Melaka không phải chỉ sống lại bằng lời thơ berzanji, mà còn bởi thái độ nghiêng mình trước lịch sử của người Mã Lai hiện đại, cho dù lịch sử đó có được tạo ra bởi thực dân Bồ Đào Nha hay Hà Lan đi chăng nữa.
Bảo tồn văn hóa và lịch sử cần một sự công tâm tuyệt đối. Ở đó không có chỗ cho hận thù lịch sử hay những ham muốn thương mại.
Tôi có một niềm tin rằng khi trở lại Melaka, tiếng ngâm thơ berzanji sẽ một lần nữa đưa tôi trở về quá khứ - chiến trường Melaka năm 1641, liên minh Hà Lan - Mã Lai đánh chiếm Melaka thành công từ tay người Bồ Đào Nha.
Tôi vẫn chưa tìm đến mộ của Hang Tuah, chiến binh huyền thoại của Melaka và cả Malaysia. Đó lại là một lịch sử khác của Melaka.
Tôi hạ cánh xuống Bangkok giữa những ngày lũ lụt tồi tệ nhất Thái Lan trong 50 năm qua. Thức dậy sau giấc ngủ gần một giờ đồng hồ với chiếc vai và cái cổ tê nhức bởi chiếc ghế không có headrest, không thể recline, tôi lờ mờ nhìn ra cửa sổ máy bay khi cơ trưởng thông báo chuẩn bị đáp xuống Survarnabhumi.
Tiếng động cơ tăng thrusting đột ngột khi chuẩn bị runway alignment, tôi quay sang giải thích bằng tiếng Anh với một hành khách người Thái, mà thoạt đầu tôi đinh ninh là người Malaysia: “Họ huỷ hạ cánh rồi, có lẽ khoảng 20 phút nữa mới đáp được.”.
Thực ra là khoảng 30 phút bay vòng quanh bầu trời của tỉnh Samut Prakan khi máy bay của bạn hạ cánh vào buổi trưa, thời điểm bận bịu nhất của sân bay lớn nhất Đông Nam Á, và Air Traffic Control Tower ra lệnh máy bay phải huỷ hạ cánh.
Một năm trở lại đây, tôi luôn hạ cánh xuống Bangkok lúc nửa đêm. Từ Saigon bay đi Bangkok, máy bay sẽ bay thẳng qua vùng trời Cambodia, sau khi vào không phận Thái Lan, nó sẽ tiếp tục bay qua tỉnh Chon Buri trước khi đáp xuống Samut Prakan. Lác đác bên dưới là vài vùng ngập nước. Chỉ lác đác mà thôi.
Tàu từ sân bay về trung tâm, tôi lật tờ Bangkok Post với trang nhất tràn ngập thông tin về lũ lụt ở Ayuthaya. Hình ảnh nữ thủ tướng Yingluck căng thẳng trả lời chất vấn về tình hình phòng chống bão lụt. Hình ảnh ông bộ trưởng thương mại Kittiratt Na Ranong mếu máo nhìn dòng nước lũ sang bằng khu công nghiệp ở Ayuthaya. Hình ảnh những người dân địa phương giận dữ cáo buộc chính quyền hi sinh Ayutthaya và tính mạng của họ để bảo vệ Bangkok.
Ngày hôm sau, Bangkok Post đưa tin Steve Jobs qua đời, chỉ là một dòng chữ khiêm tốn trên trang nhất dẫn về một trang trong.
Khaosan, quận Pathumwan, quận Silom, Siam Paragon, Centralworld, chợ Pratunam, và cả ngàn hẻm ngách ở Sukhumvit - Những nơi tạo nên “Bangkok của mười mấy triệu khách du lịch mỗi năm” vẫn khô ráo, tấp nập và đầy bụi bặm.
“Bangkok” đó không có khái niệm ngày đêm, mùa mưa hay mùa khô. Máy điều hoà vẫn phải chạy hết công suất, người ta vẫn mua sắm điên cuồng, vẫn ăn chơi, nhảy nhót và làm tình điên cuồng.
Tôi đứng giữa chùa Pathumkongka. “Nan! Nan!”, một ông người Thái trông lem luốc vừa chỉ vừa trả lời thứ tiếng Thái vụng về mà tôi học được từ cuốn Lonelyplanet Thai Phrasebook.
Tôi ái ngại nhìn một vùng nước lênh láng khắp ngôi chùa ven sông Chao Phraya. Nước cũng phải sâu ít nhất đến mắt cá chân. Quay lại nhìn ông ta và cười gượng gạo, ông hiểu ý và nhìn quanh quất tìm giúp một lối đi khô ráo nhưng rồi cũng cười trừ và lắc đầu.
Ổn thôi! Chẳng là vấn đề. Tôi tháo giày, cởi tất, xắn quần, hai tay xách đồ đạc bước vào vùng nước cách ngôi nhà gỗ ven sông chừng gần 100m.
Khun Si và Khun Air, hai chủ nhân dễ mến của Loy La Long ái ngại hỏi tôi có cảm thấy thoải mái khi ở trong ngôi nhà gỗ ven sông lúc lũ lụt này không. Tôi bảo với họ chuyện này không thành vấn đề, dù rằng ấn tượng về tin lũ sắp tấn công Bangkok và vũng nước sâu giữa chùa Pathumkongka có làm tôi hơi e dè.
Tôi đã từng ở Bangkok lúc đường phố trung tâm tràn ngập áo đỏ và quân đội; xe tăng và thiết giáp cũng nhiều như taxi; đi bộ về khách sạn lúc nửa đêm giữa nỗi sợ bom mìn trên phố phường thủ đô.
“I’m here to loy la long (‘float freely’ in Thai), not being sinked!”.
Mỗi sáng sớm, Khun Si và Khun Air thay phiên nhau dùng phấn màu ghi lên tấm bảng nhỏ ngay trước lối vào thời điểm thuỷ triều lên cao nhất. Nhưng tôi thì chẳng mấy khi để ý lắm, chỉ cần xắn quần và tháo giày là ổn thôi mà.
Một buổi chiều khi tôi vừa mới về trước ngõ Loy La Long, ông hàng xóm đang đứng cười hỉ hả với với một con cá sông to bự trên tay. Thì ra: nước sông Chao Phraya tràn vào nhà ông mang theo những vị khách không mời mà đến. Ông kể có lúc là cá, có khi là cua, thậm chí là cả rắn nước; nhưng ông không bắt lấy ăn mà đem thả lại. Khun Si kể có lần còn vớt được một chú chó đang lặn ngụp giữa dòng nước tấp vào đây.
Dường như tin vào karma là một đặc trưng của người Thái, đặc biệt là những con người sống tách biệt khỏi Bangkok phù hoa và trải qua mỗi ngày trong đời tại ngôi chùa ven sông này.
Tôi trải qua gần một tuần trong nhà gỗ ven sông. Không Excel, không Word, không Powerpoint; chỉ ăn - ngủ - đọc sách.
Tôi thích sống trong một ngôi nhà gỗ và cũ kỹ như thế này, nếu không nhìn ra một khu rừng xanh mát thì cũng là một vùng nước mênh mang. Một ngôi nhà lộng gió trời ngay cả khi giữa trưa nắng gắt.
Buổi chiều mưa chạng vạng nhìn ra dòng sông uốn dài phản chiếu thứ ánh sáng rực rỡ của Bangkok đô thành - Đó là cái cảm giác bị tách biệt hoàn toàn với “Bangkok của mười mấy triệu người kia”.
Cảm giác thanh bình, nhẹ nhàng, có chút buồn hiu hiu khi được sống được thở trong một Krung Thep xưa cũ, từ khi nó còn chưa là “ổ điếm Đông Phương”.
Từ Loy La Long, tôi nhìn thấy ánh sáng xanh của khách sạn Millennium Hilton Bangkok, bên mạn trái là khách sạn Sheraton Royal Orchid và xa nữa là Mandarin Oriental Bangkok - Những khách sạn mà tôi đã từng ở đó ít nhất là một đêm trong những chuyến inspection trip.
Hàng ngàn con người sẵn sàng trả hàng trăm, thậm chí chục ngàn mỹ kim cho một đêm ở những nơi sang trọng đó. Có lẽ là chỉ để trải nghiệm cái cảm xúc như của tôi ngay bây giờ mà thôi.
Sự phù phiếm có một sức mạnh mãnh liệt. Nó khiến con người tham lam hơn, đồng thời khiến họ trở nên yếu đuối hơn.
Tôi rẽ vào một quán ăn nhỏ, xập xệ, rẻ tiền gần bến tàu Tha Tien. Nước triều lúc tối không tồi tệ lắm, chỉ vẫn lấp xấp mắt cá chân. Nhưng mỗi lúc có sóng là làn nước lại hắt lên đến gần đầu gối.
Tôi ngồi trên chiếc ghế nhựa cao màu xanh, một cách bình thản, hai chân nhúng xuống nước đã lênh láng khắp cả ngôi nhà. Thoáng qua chút rùng mình vì biết đâu có con rắn nước đang lượn lờ dưới kia, hoặc nhỡ đâu rò điện nơi nào thì chết.
Sợ chết nhưng mà vẫn cứ điềm nhiên ăn, vẫn thích thú ngồi gắp từng miếng gỏi đu đủ trong dĩa son tam nua cay xè, húp từng muỗng canh tom yum nóng.
Tự nhiên như cái cách người ta đứng giữa nước lũ lênh láng mà làm món ăn, mà bán hàng, mà sống.
Ở đây vẫn an toàn hơn Ayutthaya, vẫn bình an hơn cái khốc liệt của bão lũ miền Trung Việt Nam.
Bangkok mùa lũ. Nhiều nước lênh láng hơn, và nhiều bao cát hơn.
Cô bạn gái người Thái của tôi nhắn tin qua Whatsapp: Lũ tràn vào Bangrak rồi, vùng Bang Sue gần Mo Chit cũng đã ngập một vài nơi. Kẹt xe, cuộc sống xáo trộn vì lũ.
Dọc theo Chao Phraya cho đến tận cửa biển, người ta đắp đất, đắp bao cát tạo vành đai chống lũ. Không khí trở nên căng thẳng hơn.
Báo đưa tin các quan chức chính quyền tổ chức lập đàn cúng lễ cầu cho thần Nước, thần Sông đừng dâng lũ nữa. Người dân Thái không tin chính quyền nữa. Họ chỉ tin vào Phật, Thần và Vua.
Từ nhà gỗ, tôi ngồi nhìn dòng sông, những con tàu thỉnh thoảng ngược xuôi. Nằm áp tai xuống sàn, tiếng sóng nước bên dưới dồn dập.
Những ngày này, tôi đang sống giữa trận lũ tồi tệ nhất lịch sử Thái Lan trong 50 năm qua. Nhưng chỉ cần một nửa khoảng thời gian đó thôi, kể từ bây giờ, sẽ không còn Bangkok, không còn Singapore, không còn Saigon, những hòn ngọc Phương Đông sẽ chìm dần chìm dần vào biển cả như các nhà khoa học đã từng cảnh báo.
Bangkok mùa lũ. Tôi cũng yên lành dập dìu theo từng làn nước của Chao Phraya. Nổi trên mặt nước một cách tự do, không màng nghĩ suy.
Những lo âu vẫn cứ lênh đênh theo. Cuộc đời vốn dĩ là như thế.
what I blog on: digital marketing, social media, airline business, web technologies, and travelling